1. Phạm vi áp dụng
– Kỹ thuật được áp dụng cho các vùng sản xuất táo Đài Loan.
– Giống táo: đài loan và các giống tương tự.
2. Nội dung
2.1. Yêu cầu sinh thái
– Táo Đài Loan là cây ăn quả lâu đời, thích hợp với điều kiện nhiệt đới nước ta, dễ trồng, sinh trưởng phát triển nhanh, sau trồng 1 năm bắt đầu cho thu quả.
– Thời vụ trồng chủ yếu là vụ xuân tháng 2 – 4, nếu cây giống ghép sớm có thể trồng từ tháng 1. Sang xuân gặp thời tiết thuận lợi cây sinh trưởng nhanh. Cuối năm cây sẽ cho nhiều quả. Khoảng cách trồng thông thường từ 3 – 4 m một cây.
2.2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.2.1. Chuẩn bị đất và quản lý đất trồng
– Chọn chân đất màu (chân ruộng cao) hoặc sườn đồi, màu mỡ, tầng canh tác dày, đảm bảo có nước tưới và thoát nước tốt. Khi cần thiết phải xử lý các nguy cơ tiềm ẩn từ đất (dư lượng kim loại nặng, nitrate, xói mòn, ngập úng… ảnh hưởng đến cây trồng và sức khỏe người tiêu dùng), tổ chức và cá nhân SX phải được sự tư vấn của nhà chuyên môn và phải ghi chép, lưu trong hồ sơ các biện pháp xử lý.
– Trong vùng sản xuất vải táo đài loan hạn chế chăn thả vật nuôi gây ô nhiễm nguồn đất, nước. Nếu bắt buộc phải chăn nuôi thì phải có chuồng trại và có biện pháp xử lý chất thải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và sản phẩm sau thu hoạch.
2.2.2. Thời vụ: Trồng vào vụ xuân (tháng 2, 3).
2.2.3. Đào hố, bón lót
– Hố được đào với kích thước 80 x 80 x 80 cm. Khi đào hố để riền lớp đất mặt về một phía.
– Bón lót cho mỗi hố 30 – 50 kg phân chuồng hoại mục + 2 kg lân Super + 0,5 kg vôi bột. Lượng phân trên được trộn đều với lớp đất mặt và lấp xuống đáy hố, sau đó lấp thêm một lớp đất không lẫn phân, cỏ, rác và tưới ướt sũng hố trồng. Đào hố, bón lót, lấp hố phải thực hiện trước khi trồng 1 tháng.
2.2.4. Khoảng cách, mật độ trồng
– Đối với trồng thuần: Hàng cách hàng 4 m; khoảng cách giữa các cây cùng hàng là 4 m. Giữa hai hàng các cây được trồng với mật độ là 600 cây/ha.
– Đối với trồng xen: Khoảng cách các hàng là 8 m, khoảng cách giữa các cây là 4 m, mật độ 300 cây/ha.
– Cách trồng: Xé bỏ túi bầu, đặt bầu vào tâm hố sau đó vun đất kín xung quanh bầu. Dùng tay ấn chặt đất xung quanh bầu. Ở vụ xuân có thể trồng rễ trần.
Chú ý: Sau khi trồng cần tưới nước ướt đẫm hố trồng.
2.2.5. Chăm sóc
2.2.5.1. Bón phân thúc
– Lượng phân bón:
+ Đạm Uree: 1,5 kg/cây/năm
+ Kaly: 2 kg/cây/năm.
– Các đợt bón:
+ Đợt 1: Khi cây có lộc xuân: bón 50% lượng đạm, 25% lượng kaly
+ Đợt 2: Sau khi cây đậu quả: bón 25% lượng đạm, 35% lượng kaly
+ Đợt 3: Khi quả đạt ½ kích thước tối đa: bón nốt lượng phân còn lại.
– Cách bón: Xẻ rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây, các loại phân được trộn đều, đổ xuống rãnh và lấp đất kín lại (từ năm thứ 2 trở đi, xẻ rãnh bón cách gốc 1 – 2 m).
– Từ năm thứ 2, lượng phân bón mỗi loại tăng thêm 25% so với năm trước. Cụ thể, phân bón ở năm thứ 2 như sau:
– Sau khi đến cuối năm, bón một lượng phân chuồng và phân lân tăng thêm 25% so với phân lót khi trồng. Lượng vôi chỉ bón 0,2 kg/cây/năm.
– Các đợt bón thúc thực hiện như năm thứ nhất nhưng tăng lượng phân mỗi loại thêm 25%.
– Cách bón phân các năm tiếp theo như đối với năm thứ hai. Lượng phân bón mỗi loại tăng thêm 25% (trừ vôi bột giữ nguyên).
– Có thể dùng các loại phân vi lượng, phân bón lá để bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây.
2.2.5.2. Làm cỏ, tưới nước
– Các đợt bón phân trong năm phải kết hợp làm cỏ, tưới nước.
– Sau khi trồng thường xuyên tưới nước giữ ẩm, đặc biệt giai đoạn mới trồng và khi cây ra hoa, đậu quả cho đến khi quả chín nhưng không được để cây bị úng.
– Giai đoạn cây còn nhỏ có thể trồng xen các cây đậu, lạc… để tránh lãng phí đất, hạn chế cỏ dại và tăng thêm thu nhập.
2.2.5.3. Cắt tỉa
– Tỉa cành chính, cành thứ cấp: Giữ lại 2 – 3 cánh chính phân bố đều về các phía. Cắt tỉa các cành thứ cấp bị sâu bệnh, nhỏ, yếu.
– Tỉa quả: Tỉa bỏ quả nhỏ, dị hình, bị sâu, bệnh hại, các chùm nhiều quả, chỉ giữ lại 2 – 3 quả/5 lá để có thể nuôi quả tốt nhất.
– Hàng năm, sau khi thu hết quả, tiến hành cắt (đốn) toàn bộ các cành chính ở vị trí cách mặt đất 20 – 30 cm, mỗi năm đốn cao thêm từ 5 – 7 cm.
2.3. Phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại
* Ruồi đục trái (Bactrocera dorsalis):
– Ruồi trưởng thành có màu nâu lợt, đẻ trứng vào vỏ trái táo khi sắp chín, trứng nở thành dòi đục vào bên trong thịt trái và sẽ làm nhộng trong đất.
– Biện pháp phòng trị: Nên thu họach trái sớm trước khi chín. Thu gom và tiêu hủy trái bị nhiễm. Chỉ được sử dụng thuốc trừ sâu sinh học để phòng trừ.
* Rệp sáp:
– Gây hại bằng cách chích hút trên các đọt non, cuống hoa, cuống tar1i non làm cho đầu cành bị quăn queo, không phát triển, hoa và trái bị rụng.
– Biện pháp phòng trị: Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học để trừ và rải Regent dưới gốc để diệt và đuổi kiến.
* Bệnh thối nhũn trái (do nấm Penicillium expansum):
– Trái bị bệnh có vùng nhạt màu, mềm, sũng nước, bốc mùi hôi mốc rất mạnh. Vùng thối lan nhanh, làm trái bị nhũn ra.
– Biện pháp phòng trị: Tránh làm xây xát trái khi thu hoạch, lọai bỏ trái bị bệnh.
2.4. Thu hoạch và xử lý sau khi thu hoạch
– Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 20 ngày.
– Từ khi ra hoa đến khi thu họach khoảng 4 tháng, thu hoạch khi quả đạt kích thước tối đa và chuyển từ màu xanh sang màu xanh vàng. Chọn ngày nắng ráo để thu hoạch, không được làm quả dập nát, không để quả trực tiếp xuống mặt ruộng gây nhiễm bệnh và hư hỏng.
* Bảo quản táo
– Táo cần được bảo quản ở nhiệt độ thích hợp từ 10 – 150C để đảm bảo quả không bị hỏng.
– Nên sử dụng hệ thống lưu trữ lạnh để duy trì nhiệt độ ổn định cho táo.
– Tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời và giữ táo khô ráo để ngăn chặn sự phát triển của nấm và vi khuẩn.
* Vận chuyển táo
– Khi vận chuyển táo, cần sử dụng các phương tiện vận tải phù hợp để đảm bảo táo không bị va đập hoặc nhiệt độ không bị thay đổi đột ngột.
– Sử dụng bao bì chuyên dụng và đảm bảo táo được đóng gói cẩn thận để tránh hỏng hóc trong quá trình vận chuyển.
– Đảm bảo các phương tiện vận tải được vệ sinh sạch sẽ để ngăn chặn sự ô nhiễm từ vi khuẩn và nấm. Điều này giúp đảm bảo táo được bảo quản và vận chuyển theo tiêu chuẩn VIETGAP, đảm bảo an toàn và chất lượng cho người tiêu dùng./.









