II. Chọn đất và chuẩn bị đất trồng
Cam sành khá dễ tính nên được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, và nhiều kiểu khí hậu khác nhau. Từ Tây Nguyên cho đến trung du, vùng núi đều có thể trồng được. Chỉ cần đất pha thịt, thuộc tầng canh tác từ 0.5 đến 1m. Độ pH dao động từ 5 – 6.5 và lượng mưa phân bố chừng 1000 – 2000mm/ năm và phân bố đều là được.
Nếu trồng cam ở vùng đất trũng thấp thì cần dào mương, làm luống. Còn trồng ở vùng cao thì cần đánh bồn để tiện việc tưới nước vào mùa khô và cả việc giữ nước.
– Chuẩn bị đất trồng:
Trước khi trồng phải cày bừa kỹ sạch gốc cây và cỏ dại, san phẳng đất, sau đó tiến hành đào hố trồng. Tuỳ từng loại giống khác nhau mà có khoảng cách, mật độ đào hố trồng khác nhau. Làm đất trước 15 ngày.
– Kích thước hố: 40cm x 40cm x 40cm, hoặc 60 x 60 x 60 cm.
III. Kỹ thuật trồng
1. Thời vụ trồng
Ở các tỉnh phía Bắc thời vụ trồng cam sành là mùa xuân (tháng 2 – 4) hoặc mùa thu (tháng 8 – 10).Nên trồng cây vào vụ Xuân (tháng 2 – 4) khi thời tiết đã ấm và có mưa ẩm.
2. Tiêu chuẩn cây giống
Việc lựa chọn giống cam sành quyết định rất nhiều đến năng suất, nhất là chất lượng quả sau này.
Hiện nay, để nhân giống cam sành theo 2 phương pháp là: chiết cành và ghép cành. Cây được chiết cành nhanh cho ra quả thu hoạch, nhưng nó lại có bộ rễ yếu và nhanh già cây. Giống cây ghép thì khỏe hơn, tuổi thọ cây được kéo dài, bộ rễ khỏe mạnh hơn.
Hiện nay, cây giống gốc ghép được các nhà vườn trồng chọn nhiều nhất. Chọn cây giống ghép, đảm bảo tiêu chuẩn trồng và đúng giống, qui cách 60-80 cm, cây xanh tốt, không vàng lá, sâu bệnh.
3. Mật độ, khoảng cách, cách trồng
Khoảng cách giữa các cây 4 – 5 m (mật độ 400 – 625 cây/ha).
– Đào hố cam theo đường đồng mức trên đất dốc, trên đất bằng bố trí hố so le giữa các hàng.
– Bón lót
+ Lượng phân bón cho cây cam: 40 – 50 kg phân hữu cơ + 0,1 kg phân đạm urê
+ 1,0 – 2,0 kg supe lân + 0,1 kg phân kali và 0,5 – 1,0 kg vôi bột (nếu đất chua).
– Cách trồng
Xé bỏ túi nilon bầu, đặt bầu cây chính giữa hố nằm lọt vào hốc đã chuẩn bị, điều chỉnh cho cây đứng thẳng, mắt ghép quay về hướng gió chính, dùng đất nhỏ vun vào xung quanh bầu, dùng tay ấn nhẹ đất để đất tiếp xúc với rễ cây.
Dùng cỏ, rác, rơm, rạ tủ kín xung quanh gốc để giữ ẩm dày 10 – 15 cm, cách gốc 15 – 20 cm. Dùng que nhỏ, cứng cắm xiên 45 độ để cố định cây trong đất.
Sau 1 tháng kiểm tra nếu thấy cây chết phải trồng dặm để đảm bảo mật độ.
IV. Kỹ thuật chăm sóc
1. Làm cỏ và tủ gốc
– Làm cỏ: Muốn hạn chế cỏ dại bao quanh gốc, thì bạn cần phủ rơm rạ, hoặc phân xanh, cỏ ở dưới gốc. Sau mỗi cơn mưa bà con cần xới phá váng và xáo quả sạch xung quanh gốc. Vào tầm tháng 1, 2 hay 8, 9 thì cần thường xuyên làm cỏ cho cây. Xới thật sạch toàn bộ diện tích trồng mỗi vụ 1 lần. Và đảm bảo 1 năm xới gốc 2-3 lần.
– Tủ gốc
Mục đích: Tránh thoát hơi nước, giữ ẩm cho cam mới trồng tránh nhiệt độ cao ảnh hưởng đến rễ.
+ Che phủ bằng nilon: Đây là biện pháp có nhiều ưu điểm nếu có điều kiện thì dùng biện pháp này là tốt nhất. Vì dùng biện pháp này vừa hạn chế được cỏ dại, giữ ẩm cho đất. Biện pháp này tiến hành sau khi làm đất xong, trước khi trồng. Dùng các tấm nilon có màu sẫm, che phủ trên hàng cam đục các lỗ nơi vị trí trồng cây cam theo mật độ khoảng cách đã định sẵn.
+ Sau trồng xong để giữ ẩm cho đất, tránh nắng chiếu trực diện vào gốc cam. Tủ gốc giữ ẩm thường bằng rơm rạ khô, cỏ khô và cách gốc khoảng 20cm. Biện pháp này tránh được cỏ dại phát triển đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp một lượng dinh dưỡng đáng kể.
2. Tưới nước
Nước rất cần cho sinh trưởng và phát triển của cam nhất là các giai đoạn ra hoa, kết quả và quả phát triển. Do đó giai đoạn này nếu khô hạn, thiếu nước thì phải tưới kịp thời.
Khi cam còn nhỏ nên tưới nước thường xuyên, nhất là mùa nắng. Lưu ý sau khi trồng tránh tưới nước trực tiếp vào gốc cây con vì dễ làm đất mềm, độ bám đất của rễ kém cây sinh trưởng kém. Khi cây đã trưởng thành việc tưới nước có thể kết hợp với việc điều khiển cây ra hoa.
3. Cắt tỉa, tạo tán
– Khi cây cao 50 – 60 cm thì tiến hành bấm ngọn để cây ra các càch cấp 1 cách vị trí ghép 25 – 30 cm. Mỗi cây để 3 – 4 càch cấp 1, phân bố đều ra các phía, tạo với thân chính 60 – 90 độ, cách nhau 30 – 40 cm. Các cành khác trên thân chính đều cắt bỏ.
– Trên mỗi cành cấp 1 để 2 – 3 cành cấp 2 cách nhau 30 – 40 cm, cành cấp 2 đầu tiên để cách chỗ phân cành cấp 1: 40 – 50 cm, cành cấp 2 để 4 – 6 cành cấp 3, đây là cấp cành sẽ tạo ra cành mẹ để sinh ra cành quả hàng năm.
– Thường xuyên tỉa bỏ các cành trong tán: cành tăm hương, cành vượt, cành la, cành bị bệnh để tán cây luôn thông thoáng.
4. Bón phân
+ Giai đoạn kiến thiết cơ bản (sau trồng 1 – 3 năm)
Giai đoạn này cần bón nhiều lần trong năm để cây ra được nhiều đợt lộc, tạo khung tán cho cây.
– Lượng phân bón: (cho 1 cây): 30 – 50 kg phân hữu cơ + 0,5 – 0,8 kg phân đạm urê + 0,8 – 1,2 kg phân supe lân + 0,3 – 0,4 kg phân kali + 0,5 – 1,0 kg vôi bột.
– Thời kỳ bón và lượng phân bón: bón 4 lần/năm.
Lần 1: Tháng 2 với lượng: 40% phân đạm + 40% phân kali
Lần 2: Tháng 5 với lượng: 30% phân đạm + 30% phân kali
Lần 3: Tháng 8 với lượng: 30% phân đạm + 30% phân kali
Lần 4: Tháng 11 với lượng 30 – 50 kg phân hữu cơ/cây + 0,8 – 1,2 kg phân lân + 0,5 – 1,0 kg vôi.
+ Giai đoạn kinh doanh
Đối với cam sành thâm canh từ năm thứ 4 cần căn cứ vào sản lượng dự kiến thu hoạch.
|
Lượng phân bón |
Năng suất cây cam (kg/cây) |
|||||
|
20 |
40 |
60 |
90 |
120 |
150 |
|
|
Urê (g/cây) |
650 |
1.100 |
1.300 |
1.750 |
2.200 |
2.600 |
|
Lân supe (g/cây) |
830 |
1.400 |
1.700 |
2.250 |
2.800 |
3.350 |
|
Kali clorua (g/cây) |
375 |
625 |
750 |
1.000 |
1.250 |
1.500 |
|
Phân hữu cơ (g/cây) |
40 |
50 |
60 |
80 |
100 |
120 |
Thời kỳ bón: Bón phân trong thời kỳ cây cho quả được chia làm 3 lần chính: bón sau thu hoạch quả, bón trước khi ra hoa và bón trong thời gian quả lớn. Lần bón thứ 3 có thể được chia thành 2 – 4 lần nhỏ, tùy điều kiện từng nơi.
– Bón sau thu hoạch: toàn bộ phân hữu cơ + 10% phân đạm + 100% phân lân và 20% phân kali.
– Bón vụ Xuân (trước và sau lộc Xuân xuất hiện): bón 30% phân đạm và 30% phân kali.
– Bón thời kỳ quả lớn (chia làm 2 – 4 lần): bón 50% phân đạm và 50% phân kali.
+ Cách bón: Phân đạm, kali: rạch rãnh xung quanh tán cây sâu 3 – 5 cm, bón phân, lấp đất.. Phân hữu cơ, lân trộn đều, đào rãnh xung quanh tán cây sâu 20 -25 cm, bón phân, lấp đất.
5. Chăm sóc cam sau thu hoạch
Cam sau thu hoạch cần được chăm sóc, vệ sinh, cắt tỉa, phòng trừ sâu bệnh để cây tiếp tục phát triển và cho mùa bội thu sau.
– Tiến hành làm sạch cỏ dại, sau 25 – 30 ngày thu hoạch cắt tỉa các cành sâu bệnh, cành tược, khô héo, cành tăm hương, mọc không đúng hướng…
– Quét vôi vào gốc cây ngăn sự cư trú của sâu bệnh.
– Phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp: bón phân đầy đủ, cân đối, kịp thời, bón đúng kỹ thuật, phun thuốc đúng lúc, đúng cách.
V. Phòng trừ sâu bệnh
5.1. Sâu hại chủ yếu
*Sâu vẽ bùa (Phyllosnis Citrella)
Sâu non đục vào lá gây nên những đường ngoằn ngoèo, thường đi chung với bệnh loét gây lên.
Tỉa cành, bón phân hợp lý, điều khiển sự ra chồi sao cho đồng loạt để hạn chế sư lây nhiễm liên tục trong năm. Phòng trừ bằng cách phun thuốc sớm ngay từ giai đoạn cây ra lộc non . Sử dụng 1 trong các loại thuốc: Phosphomidon, Dimethoate, Trigard, Abamectin và Dimilin có hiệu qủa phòng trị tốt sâu vẽ bùa. Bên cạnh các loại thuốc hóa học thì hiệu quả của dầu khoáng đối với sâu vẽ bùa cũng đã được khẳng định.
* Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori)
Xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9.
– Đặc điểm gây hại
Sâu trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.
– Phòng trừ
+ Bắt diệt sâu trưởng thành (xén tóc)
+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non.
+ Sau thu hoạch (tháng 11 – 12) quét vôi vào gốc cây để diệt trứng
+ Bơm các loại thuốc xông hơi như Supracide 40ND 0,2% vào các vết đục, sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.
Chú ý: sâu đục thân đục cành thường đẻ trứng ở các kẽ nứt của vở ở phần thân cây và gốc cây, vì vậy vào tháng 11- 12 thường dùng vôi quét vào gốc cây sẽ có tác dụng làm nấp những kẽ nứt ở vỏ cây không cho sâu có chỗ đẻ trứng và tiêu diệt (làm bị ung những trứng sâu đã đẻ trong kẽ nứt).
* Nhện đỏ (Paratetranychus Citri
Phát sinh quanh năm hại lá chính, chủ yếu vào vụ đông xuân.
Nhện đỏ rất nhỏ, thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn thấy những vùng tròn bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện, hơi phồng lên nhăn nheo. Những cây cam hoặc vườn cam gần nương chè thường hay có nhện đỏ phá hoại.
* Nhện trắng (Phyllocoptes oleivorus)
Phát sinh chủ yếu trong thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.
Để chống nhện trắng và nhện đỏ, dùng thuốc Monocrophos 56% để phun với nồng độ 1- 2% (tức 10- 20 ml thuốc/10 lít nước), hoặc dùng thuốc Methamidophos 600 dạng nước pha nồng độ 1- 2% để phun. Nếu không có 2 loại thuốc trên thì dùng Kentan (thuốc vẫn dùng cho chè) pha nồng độ 1- 2/1000. Cần phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị phá hại phải phun liên tục mỗi lần cách nhau 5- 7 ngày.
* Rệp cam
Chủ yếu hại các lá non cành non. Lá bị xoán rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.
* Rệp sáp
Trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu trắng hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu.Cam ở gần ruộng mía thường hay bị rệp từ mía lan sang.
Dùng Trebon, Sherpa pha với nồng đọ 1- 2/1000 phun 1- 2 lần vào thời kỳ lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn điều trị có hiệu quả cần pha thêm một ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuôc dễ thấm.
* Ruồi vàng hại quả
Ruồi trưởng thành đẻ trứng vào vỏ quả, sâu non nở thành dòi đục vào trong quả làm thối quả. Khi trứng chưa nở ngoài vỏ quả cam chỉ thấy một vết châm rất nhỏ, nhưng khi trứng nở thành dòi vết châm bị thâm nâu và lan rộng, ấn tay vào thấy nước cam phòi ra, bên trong quả đã rất nhiêu dòi. Dùng bả gồm Methyl Eugenol 90 – 95% + 5 –10% Nalet. 2ml cho một bả, mỗi bả dùng cho 50 cây, đánh liên tục 10 – 12 lần trong mùa quả chín. Phun Sherpa, Trebon 1 – 2/1000 cho vườn cây 3 – 4 lần, cách nhau 5 – 7 ngày.
5.2. Bệnh hại
1. Các bệnh do nấm
* Bệnh loét cam (Xanthomonas Citri) và bệnh sẹo (Ensinoe Faucetti Jenk) gây hại chủ yếu ở thời kỳ vườn ươm và cây mới trồng 1-3 năm. Trên lá thấy xuất hiện các bệnh màu nâu, có thể lốm đốm hoặc dầy đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ nở có màu vàng hoặc màu nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết.
Trị bệnh loét sẹo bằng cách phun boocđô 1-2% hoặc thuốc Kasuran 1/1000.
* Bệnh chảy gôm (Phytophthora Citropthora):
Bệnh thường phát sinh ở phần gốc cây cam cách mặt đất từ 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ.
Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra ở phần gỗ bị hại có màu xám và có thể nhìn thấy sợi nâu hoặc đen chạy dọc theo thớ gỗ. Bệnh nặng lớp vỏ bị hại sẽ thối rữa và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong lớp vỏ hoá đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại cây sẽ bị chết ngay, còn bị hại một phần thì lá bị vàng cây sinh trưởng kém. Bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rễ cũng bị thối. Những địa hình thoát nước kém cây dễ bị bệnh chảy gôm.
Cách phòng trị:
Dùng thuốc boocđô 1-2% để phun trên cây và đổ trực tiếp vào vết bệnh. Nếu cả rễ bị bệnh có thể đào lên loại bỏ rễ thối và xử lý thuốc. Ngoài ra có thể dùng thuốc Aliette hoặc thuốc benlat pha với nồng độ 2/1000 để xử lý các vết bệnh và phun trên lá.
2. Các bệnh do virus
* Bệnh greening
Tác nhân gây bệnh là một vi khuẩn sống trong tế bào, gram âm, phá hại chủ yếu các mạch libe ở các bộ phận còn non, rất phổ biến ở Đông Nam á.
Triệu chứng:
+ Trên cây nhỏ:
Cây lùn nhỏ, tán lá không đều, lá nhỏ đi. Lá biến vàng lốm đốm hoặc vàng lá gân xanh.
+ Trên cây lớn:
Cũng giống như cây nhỏ nhưng chỉ xuất hiện trên một vài lá, một vài cành, bị nặng thì mới xuất hiên trên toàn cây.
Bệnh lây truyền qua chiết ghép và môi giới truyền bệnh phòng trừ bệnh greening cũng như nhiều bệnh vi rút khác cần tiến hành theo 2 hướng: giảm số lượng côn trùng môi giới trong tự nhiên và dùng cây giống sạch bệnh.
* Bệnh Tristera
Triệu chứng giống như bệnh Greening, nhưng phần bị bệnh phá hại là gốc cây, cho nên khi cây bị bệnh thì toàn bộ lá trên cây đều bị vàng, giống như bệnh chảy gôm. Chỉ khác bệnh chảy gôm là lá cây bị bệnh tristeza chuyển màu vàng gần trong và bị biến dạng, sinh cành, còn cây bị bệnh chảy gôm thì lá chỉ bị vàng và không bị biến dạng.
Gốc cây bị bệnh, có thể bị những vết lõm, vỏ chỗ vết lõm bị nứt. Nếu bóc lớp vỏ ra thấy phần gỗ bên trong bị hoá bẩn (nhìn thấy một đám trắng xôm xốp). Nhìn kỹ thấy những mụn gỗ nhỏ li ti nổi lên đám gỗ hoá bần. Cây bị bệnh Tristeza chết rất nhanh, từ khi phát hiện thấy vàng lá chỉ trong vòng vài tuần hoặc một tháng cây có thể chết.
Lịch phát sinh sâu bệnh hại thường thay đổi tuỳ thuộc vào điệu kiện cụ thể của từng năm. Cần theo dõi thường xuyện diễn biến sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời.
VI. Thu hoạch và bảo quản
Tiến hành thu hoạch thu hoạch cam khi vỏ cam chuyển từ màu xanh sang màu vàng khoảng 20-30% diện tích quả. Nên tiến hành thu hái quả vào ngày nắng ráo, sử dụng kéo cắt hạn chế gãy rụng cành.
Nên thu hái nhẹ nhàng tránh làm dập nát quả. Quả sau khi thu hoạch phải được cho vào thùng giấy hoặc xốp để vận chuyển để đảm bảo quả không bị hỏng cơ học. Sau đó lau khô vỏ quả rồi tiền hành bảo quản./.







